Mệnh đề

Mệnh đề là câu khẳng định có tính đúng hoặc sai. Một mệnh đề không thể vừa đúng vừa sai. Câu hỏi, câu cảm thán, câu cầu khiến không phải là mệnh đề.

✏️ Nhận biết mệnh đề

"Hà Nội là thủ đô của Việt Nam" là mệnh đề đúng. "33 là số chẵn" là mệnh đề sai (vẫn là mệnh đề!). "Bạn ăn cơm chưa?" không phải mệnh đề.

Mệnh đề phủ định của PP ký hiệu là P\overline{P}: nếu PP đúng thì P\overline{P} sai và ngược lại.

Mệnh đề kéo theo "Nếu PP thì QQ" ký hiệu PQP \Rightarrow Q, chỉ sai khi PP đúng và QQ sai. Khi PQP \Rightarrow Q đúng: PP là điều kiện đủ để có QQ, còn QQ là điều kiện cần để có PP.

Nếu cả PQP \Rightarrow QQPQ \Rightarrow P đều đúng, ta có mệnh đề tương đương PQP \Leftrightarrow Q, đọc là "PP khi và chỉ khi QQ".

xX,P(x) laˋ xX,P(x)xX,P(x) laˋ xX,P(x)\overline{\forall x \in X, P(x)} \text{ là } \exists x \in X, \overline{P(x)} \qquad \overline{\exists x \in X, P(x)} \text{ là } \forall x \in X, \overline{P(x)}

💡 Ghi nhớ

Ký hiệu \forall đọc là "với mọi", \exists đọc là "tồn tại". Khi phủ định: \forall đổi thành \exists, \exists đổi thành \forall, và tính chất bị phủ định.